Chủ Nhật, 27 tháng 5, 2007

TỔNG QUAN VỀ HỆ ĐIỀU HÀNH WINDOWS VISTA!

Windows Vista: từ A đến Z Chưa từng có hệ điều hành (HĐH) nào vừa bị chê bai vừa được khen hết lời trong suốt quá trình phát triển dài lê thê như Windows Vista. Con đường ra mắt của Vista có lúc dường như quá xa xôi.

Giờ thì Windows Vista đã hoàn tất và hiện hữu thật sự để chúng ta đánh giá. Đây có phải bước ngoặt cho tương lai của HĐH hay là "cú vẫy" cuối cùng của hình thức điện toán xưa cũ? Chúng ta có nên nâng cấp máy tính để đáp ứng yêu cầu phần cứng khá cao của Vista?

Một số người có thể cho rằng Vista không thật sự là một cuộc cách mạng, không xứng với 5 năm dài phát triển. Nhưng bạn đừng đánh giá một HĐH theo thời gian nó được phát triển mà nên đánh giá về lợi ích nó đem lại cho người dùng - xét về các mặt này thì Windows Vista rõ ràng đã đạt. Giao diện đẹp và tính bảo mật cao, tính năng nối mạng xuất sắc... và hơn hết, nó đem lại sự thú vị cho người dùng.

Nhưng như vậy không có nghĩa là Vista hoàn hảo! Một số người có thể cho là giao diện mới cải tiến không đáng kể hoặc họ bị vô hiệu bởi tính năng kiểm soát người dùng “thô bạo”. Cuộc tranh luận giữa những người thích Vista và những người ghét Vista chắc sẽ kéo dài. Bạn đứng về phe nào? Cách hay nhất để xác định là hãy làm một cuộc khảo sát HĐH này.

Giao diện


Khi Windows Vista khởi động, có thể dễ dàng nhận thấy ngay một số thay đổi quan trọng nhất của nó: giao diện thật bắt mắt và khác biệt hẳn so với XP. Màu sắc tinh tế hơn và giao diện trông sống động hơn.

Có thể nói Vista bắt chước giao diện của Mac? Thực tế đúng vậy, Microsoft luôn bắt chước những ý tưởng tốt nhất. Trong số những tính năng mới của Vista, giao diện Aero là thành phần quan trọng và được nói đến rất nhiều - nhưng để có thể sử dụng nó, bạn cần có cấu hình phần cứng khá cao và phiên bản “hạng sang” của HĐH này. (Xem “Chi phí nâng cấp lên Vista”)

Với Aero, tổ hợp phím ALT+Tab dùng để chuyển qua lại giữa các cửa sổ đang mở giờ đây được dùng để gọi Windows Flip hiển thị hình thu nhỏ của các cửa sổ. Còn tổ hợp phím Winsdows+Tab gọi Flip 3D hiển thị xếp lớp các cửa sổ để bạn có thể duyệt qua dễ dàng. Có thể có người cho rằng tính năng này chỉ để nhìn cho đẹp chứ không thật sự hữu dụng, nhưng dù sao nó cũng đem lại sức sống mới cho bàn phím.

Hai thành phần giao diện đáng chú ý khác là Sidebar và Live Thumbnails. Rê chuột trên cửa sổ thu tối thiểu ở thanh tác vụ sẽ xuất hiện một pop-up hiển thị hình thu nhỏ (thumbnail) nội dung của cửa sổ cùng với tên chương trình và tên tài liệu hay website.

Các tiện ích (gọi là gadget) ở Sidebar (bố trí ở cạnh màn hình) được nhiều người thích, đây là các ứng dụng nhỏ có tính tương tác hiển thị các nguồn tin RSS, đồng hồ, thông tin thời tiết, giá chứng khoán (của nước ngoài)... Vista có sẵn khoảng một chục gadget như vậy và còn có nhiều gadget khác cung cấp trên mạng. Tuy trông tương tự như Google Desktop Gadgets hay Yahoo Widgets, nhưng thật sự các gadget của Vista giống với các gadget của Mac hơn ở chỗ chúng được tích hợp trực tiếp vào HĐH nhờ vậy có thể khai thác tài nguyên hệ thống. Ví dụ gadget hiển thị nguồn tin RSS sử dụng RSS Reader của Internet Explorer 7.

Menu Start giờ đây gọn hơn và hữu dụng hơn; Control Panel bố trí hợp lý hơn so với của XP, có nhiều “Center” mới như Network and Sharing Center và Sync Center (đảm nhận các chức năng của phần mềm ActiveSync trước đây). Nhưng không hiểu vì lý do gì mà nhiều liên kết có tên khác nhau lại dẫn đến cùng một nơi. Ví dụ, trong Control Panel > Network and Internet, các liên kết “Network and Sharing Center” hay “View network stutus and tasks” hay “Set up file sharing” đều dẫn đến Network and Sharing Center.

Bảo mật

Qua nhiều năm nhận nhiều lời phê bình xác đáng về vấn đề bảo mật của Windows, Microsoft hứa Vista sẽ là HĐH an toàn nhất từ trước đến nay. Mục tiêu này có thể nói là đã đạt được, nhưng người dùng phải chịu thiệt với tính năng User Account Control (UAC) đầy phiền toái. Các cải tiến bảo mật khác thì đỡ hơn.

Phiên bản Windows Firewall dành cho XP chỉ bảo vệ chống lại các mối đe doạ từ ngoài: nếu malware lây nhiễm PC của bạn và tìm cách kết nối ra ngoài thì Windows Firewall “bó tay”. Firewall của Vista có bổ sung khả năng chặn ngõ ra, tuy nhiên nó không được hiển thị sẵn ở phần Windows Firewall Settings. Để thiết lập việc kiểm soát kết nối ra ngoài, bạn phải chạy Windows Firewall với màn hình Advanced Security bằng cách gõ wf.msc tại dấu nhắc lệnh. Hiệu quả của firewall mới chưa được kiểm chứng, nhưng sự có mặt của tính năng lọc ngõ ra làm cho nó có vẻ “chắc chắn”.

Security Center của Vista không khác lắm so với của XP, giao diện vẫn còn gây bối rối cho người dùng. Cụ thể như việc nhấn lên nút màu xanh kế bên firewall (chức năng cập nhật tự động) chẳng để làm gì cả - giống như trong XP. Nhưng các liên kết ở góc trên phía bên trái màn hình này cho phép bạn cấu hình các thiết lập bảo mật.

Windows Defender - phần mềm chống spyware có sẵn của Vista tạo được ấn tượng tốt (TGVT đã có bài giới thiệu phần mềm này trong số báo tháng 5/2006, ID: A0605_155). Tính năng Software Explorer của nó hiển thị các chương trình đang chạy và các chương trình chạy lúc khởi động Windows, cùng với thông tin chi tiết và xếp loại có phải là malware hay không. Và bạn có thể thực hiện các hành động như cấm hay xóa chương trình đó. Giống như các phần mềm chống spyware khác, Defender cung cấp việc bảo vệ theo thời gian thực và quét kiểm tra hệ thống hàng ngày theo lịch.

Các tính năng mới ít nổi hơn như Network Access Protection cho phép người quản trị mạng thiết lập các yêu cầu mà một PC phải thỏa để được phép kết nối vào mạng (ví dụ “chứng nhận” khả năng chống virus). BitLocker Drive Encryption, chỉ có trong các phiên bản Vista Enterprise và Ultimate, cho phép khóa PC cùng với dữ liệu dựa trên kỹ thuật phần cứng.

Vì có nhiều vụ tấn công trên Windows khai thác các lỗ hổng bảo mật của Internet Explorer (IE), Microsoft đã trang bị các lớp bảo vệ cho IE7. Hầu hết các tính năng bảo mật mới - gồm lọc site giả mạo (phishing) và hiển thị thanh địa chỉ trong cửa sổ pop-up - cũng như nhiều tính năng khác của IE7 có thể làm việc cả trên Vista lẫn XP (xem find.pcworld.com/55741). Nhưng có một khác biệt quan trọng: trên Vista, IE7 mặc định chạy ở chế độ Protected Mode không được phép thay đổi các thiết lập và file hệ thống.

Trong tất cả tính năng, User Account Control (UAC) gây khó chịu cho người dùng nhất. UAC bắt bạn nhập password hay nhấn OK trước khi thực hiện những hành động “nhạy cảm” như bật hay tắt Windows Firewall, thêm hay xóa tài khoản user, hay cả khi chạy một số ứng dụng nào đó.

Nhiệm vụ của “quản gia” ảo này là gì? Thứ nhất, nó bảo vệ không cho malware chạy tự động. Nếu PC của bạn bị nhiễm và malware tìm cách thực hiện hành động nguy hiểm như tắt chương trình chống virus hay firewall, UAC sẽ ngăn chặn ngay. Thứ hai, UAC ngăn bạn thực hiện các thay đổi có thể gây hại cho hệ thống.
Nhưng Microsoft đã đi quá xa trong việc “bảo hộ”. Tại sao người dùng phải nhận thông báo nhắc nhở UAC chỉ vì muốn thay đổi kích thước font chữ của Windows, hay tên của PC? UAC làm cho việc sử dụng Windows Vista đôi khi có cảm giác gián đoạn, có quá nhiều pop-up phiền toái.

Thật ra, bạn có thể chặn các cảnh báo bằng cách tắt tính năng UAC. Vào Control Panel > User Accounts and Family Safety > User Accounts, nhấn Turn User Account Control on or off, và bạn sẽ tống khứ được “quản gia” ảo phiền toái này. Dĩ nhiên, nếu tắt UAC, bạn sẽ tự gánh chịu hậu quả nếu có malware chiếm quyền kiểm soát hệ thống PC của mình.

Tìm file

Windows Explorer mới có một khung xem trước hình thu nhỏ và khung chi tiết hiển thị tên file, kích thước, thẻ thông tin do người dùng tạo và những thông tin khác.

Giống IE7, Windows Explorer dùng thanh công cụ thay cho menu (bạn có thể hiện lại menu bằng cách nhấn Alt). Tuy nhiên, thanh công cụ này không nhất quán vì nó thay đổi tuỳ theo folder. Các công cụ chỉnh sửa ảnh xuất hiện trong folder chứa hình, và các công cụ chia sẻ dữ liệu xuất hiện trong folder chứa tài liệu Word. Nếu folder chứa nhiều loại file, Vista sẽ tự đoán để chọn công cụ thích hợp, nhưng không phải lúc nào nó cũng đúng. Để thay đổi kiểu folder và thanh công cụ, nhấn phải chuột trên folder, chọn Properties, nhấn thẻ Customize để chọn kiểu.

Tính năng tìm kiếm (Search) được tích hợp ở mọi cấp trong Vista. Nó có ở menu Start và ở góc phải trên của cửa sổ Windows Explorer. Vista sử dụng phương thức chỉ mục: nó bắt đầu tìm kiếm chỉ mục ngay khi bạn nhập từ khoá, vì vậy kết quả xuất hiện tức thì và thu hẹp dần khi các ký tự tiếp theo của từ khoá được gõ vào.

Search của Vista có thể tìm tài liệu, email, ứng dụng và cả website bạn đã viếng thăm. Có công cụ tìm kiếm nâng cao cho phép bạn lọc kết quả theo ngày, kích thước file, tác giả, thẻ thông tin và vị trí file. Vista cho phép tìm kiếm tổ hợp dùng toán tử luận lý (AND/OR). Bạn có thể tìm trên các PC khác trong mạng nội bộ nếu có quyền truy cập và có thể lưu tác vụ tìm kiếm để thực hiện lại chỉ với một nhấn chuột.

Nhưng Search làm việc không nhất quán: khi tìm với ô tìm kiếm ở menu Start cho kết quả khác với khi tìm ở Windows Explorer. Tệ hơn, mặc định Search lập chỉ mục và chỉ tìm một phần nhỏ dữ liệu trên đĩa cứng - chủ yếu trong folder \User\username. Nếu muốn Search tìm file ở nơi khác, bạn phải nhấn chọn mục “Include non-indexed, hidden and system files (might be slow)” (bao gồm các file hệ thống, file ẩn và các file chưa lập chỉ mục (có thể chậm)) trong tuỳ chọn tìm kiếm nâng cao. Theo như cảnh báo, việc tìm kiếm này có thể rất chậm.

Cách khắc phục: Vào Control Panel > System and Maintenance > Indexing Options và chọn thủ công các folder để đưa vào chỉ mục.

Mạng

Cho đến nay, Microsoft chưa từng làm tốt việc tích hợp các tính năng mạng trong Windows. Bạn hãy thử đồng bộ các folder Offline trong Windows XP sẽ biết ngay.

Windows Vista có tiến bộ hơn, nó xem mạng nội bộ như là mở rộng của PC. HĐH này cho phép bạn dễ dàng cấu hình mạng, chia sẻ file và quản lý đồng thời nhiều mạng. Vista hỗ trợ tất cả các loại mạng phổ biến như ethernet, Wi-Fi và Bluetooth.

Network and Sharing Center cung cấp các công cụ mạng và thông tin tiện lợi. Ví dụ, View Full Map hiển thị biểu đồ tất cả PC và thiết bị trong mạng, gồm cả máy in, switch và gateway. Bạn có thể nhấn hay rê chuột trên biểu tượng của một thiết bị để xem thông tin chi tiết, như địa chỉ IP và MAC.

Vista thực hiện kết nối mạng không dây khá hay: chỉ việc nhấn biểu tượng mạng ở khay hệ thống, chọn Connect or disconnect, và bạn sẽ thấy danh sách các mạng không dây hiện hữu. Rê chuột trên mạng bất kỳ để xem thông tin chi tiết như loại Wi-Fi (802.11b hay g) và giao thức bảo mật, nếu có.

Vista lưu thiết lập cho các mạng mà bạn hay sử dụng nhờ vậy bạn có thể kết nối tự động khi trong vùng phủ sóng. Thậm chí bạn có thể xác định mạng ưu tiên nếu có nhiều mạng.

Không phải tất cả tính năng mạng đều tốt, Windows Meeting Space dùng để tổ chức cuộc họp ảo nhưng phần chat quá kém, không có tính năng thoại và không có công cụ “bảng trắng”. Sync Center, được thiết kế để đồng bộ file và folder giữa các máy tính và thiết bị nối mạng, nhưng chỉ có các chức năng cơ bản.

Multimedia

Các tính năng multimedia của Windows Vista chỉ có cải tiến chút ít so với Windows XP. Windows Media Center không còn phiên bản riêng, các tính năng của nó được tích hợp vào Vista Home Premium và Ultimate. Riêng Windows Movie Maker có giao diện cải tiến nhiều.

Công cụ mới Windows DVD Maker giúp dễ dàng tạo đĩa phim DVD tự chơi, nhưng chưa đủ sức thay thế các phần mềm ghi DVD chuyên nghiệp. Ví dụ, DVD Maker không thể nhập vào file QuickTime.

Tương tự, Windows Photo Gallery có các công cụ giúp dễ dàng sắp xếp, in ấn, gửi email hay tạo phim từ các bức hình; có các công cụ đơn giản cho việc chỉnh sửa màu sắc và độ sáng, khử mắt đỏ... có thể không “đọ” được với trình biên tập ảnh ưa thích của bạn, nhưng Photo Gallery có sẵn và miễn phí.

Công cụ có sẵn

Windows Vista có khá nhiều công cụ tiện ích, tốt có, dở có. Ví dụ, công cụ Backup mới có lẽ là một trong những ứng dụng tệ nhất từng được tích hợp vào một HĐH. Nó không cho phép bạn chọn sao lưu từng file hay từng kiểu file riêng lẻ mà bắt bạn phải sao lưu tất cả file theo nhóm, như “Documents” hay “Pictures”. Điều này có thể làm cho bạn phải sao lưu số lượng file lớn hơn dự định.

Không phải tất cả công cụ đều tệ như vậy. Ví dụ, Windows Calendar vượt quá mong đợi: Bạn có thể tạo lịch làm việc nhóm cho các thành viên trong gia đình dùng chung PC với bạn, và có thể đưa lịch làm việc này lên web. Công cụ này tương thích với chuẩn iCalendar để đồng bộ dữ liệu với Outlook và các phần mềm lịch khác.

Windows Mail, “hậu duệ” của trình email Outlook Express trước đây, đã được cải tiến dễ dùng hơn. Windows Contacts - phiên bản mới của Address Book - tích hợp tốt với Windows Mail và Windows Calendar.

Ngoài ra, Vista còn hỗ trợ nhiều công nghệ phần cứng mới, trong đó có một số công nghệ chỉ chạy với Vista. Ví dụ, Windows Rally là một tập công nghệ được thiết kế để đơn giản hóa việc cấu hình và nối mạng các thiết bị. Windows SlideShow cho phép các nhà sản xuất tạo thêm một màn hình thứ hai - một màn hình LCD ở nắp máy tính xách tay hiển thị thông tin như email, số điện thoại mới nhận và nhiều thứ khác ngay cả khi MTXT tắt hay ở chế độ “ngủ”. Màn hình phụ này cũng có thể được tích hợp vào bàn phím, bộ điều khiển từ xa, PDA và điện thoại di động.

Vista còn có những công nghệ nhằm cải thiện hiệu suất. Trong số đó, hai công nghệ hấp dẫn nhất là SuperFetch và ReadyBoost.

SuperFetch được xây dựng dựa trên tính năng “prefetch” có trong Windows XP, nạp trước những ứng dụng thường dùng vào bộ nhớ để giảm thời gian khởi động. Microsoft nói SuperFetch không chỉ biết những ứng dụng nào bạn thường dùng, mà còn biết những ứng dụng nào có khả năng được dùng cao nhất vào những ngày khác nhau trong tuần hay ở những thời điểm khác nhau trong ngày.

ReadyBoost cho phép sử dụng ổ nhớ flash USB 2.0 để tăng dung lượng RAM; phối hợp với SuperFetch để cải thiện hiệu suất hệ thống. Thay vì tìm kiếm các chương trình và file trên ổ cứng khá chậm, Vista có thể truy cập trên ổ flash tốc độ cao. Việc này cũng có thể giúp giải phóng RAM của Vista cho ứng dụng khác để nạp trước dữ liệu.

Kết luận

Tóm lại, Windows Vista là một bước nhảy vọt của HĐH Windows, với nhiều cải tiến, giao diện đẹp và hữu dụng; tìm kiếm nhanh hơn và tốt hơn; an toàn hơn nhiều so với Windows XP SP2; và việc nối mạng tốt hơn rất nhiều. Tuy còn có những điều phiền toái như UAC, nhưng những điểm sáng đủ lấn át những điểm tối.

Có thể ví Windows Vista như chiếc xe hơi đời mới sang trọng còn Windows XP như chiếc xe đời cũ, chiếc xe đời cũ có thể vẫn chạy tốt nhưng “lái” chiếc xe đời mới thú vị hơn.


Giải quyết hộp thoai cảnh báo của Windows Genuine Advantage















Gần đây, chức năng AutoUpdate của Windows đã tự động tải về cài đặt chương trình kiểm tra bản quyền của Microsoft tên là Windows Genuine Advantage (WGA) Notifications (KB905474).
Nếu là phiên bản Windows không có bản quyền thì thường xuyên bị hiển thị cảnh báo mỗi khi bạn khởi động máy tính, không cho bạn tiếp tục tải xuống các upgrade nữa và liên tục đưa ra lời nhắc nhở bạn nên đang ký Windows Genuine Advantage để có được key hợp pháp cho HĐH bạn đang sử dụng. Để xóa cảnh báo này có 2 cách:
  1. Sử dụng phần mềm Windows Genuine Advantage Fix, tải về tại: http://rapidshare.de/files/24332859/kb905474_1.5.540.0.rar. Phần mềm khá gọn, chỉ khoảng 1,5 MB. Sau khi tải về giải nén, chạy file cài đặt xong khởi động lại máy là sử dụng được bình thường.

    Tôi hiện đang sử dụng HĐH Win XP và sau khi sử dụng phần mềm trên đã tiếp tục upgrade được và không còn hiện cảnh báo mỗi khi khởi động máy. Phần mềm cài đặt khá đơn giản và không chiếm bộ nhớ máy. Cài xong, máy tính của bạn sẽ tiếp tục hoạt động bình thường và bạn có thể dễ dàng sử dụng và cài đặt các ứng dụng của Windows như Windows Media 11 hoặc lnternet Explorer 7.0.

  2. Xóa một số file và chỉnh sửa registry theo các bước sau:

  • Restart máy vào chế độ Safe Mode (trong quá trình khởi động, nhấn F8 rồi chọn Safe Mode).

  • Vào Windows/System32 rồi xóa các file: wgtray.exe, wgalogon.dll, legitcheckcontrol.dll (nhấn Shift+del để xóa
    hẳn). Vào Windows\ System32\dllcache để xóa các file: wgtray.exe, wgalogon.dll.

  • Vào Start > Run, gõ regedit.

    Tìm HKEY_LOCAL_MACHINE \ SOFTWARE \ Microsoft \ WindowsNT \ Current Version \Winlogon \ Notfty, xóa folder Wgalogon (click chuột phải lên folder rồi chọn delete).

    Tìm HKEY_LOCAL_MACHINE \ SOFTWARE \ Microsoft \ Windows \ Current Version \ Uninstall, xóa folder WgaNotify.

Thật ra, Các bạn chỉ cần làm bước 1 và 2 thôi cũng đã loại được bảng hiển thị đó rồi.



Parental Control công cụ hữu ích cho các bậc phụ huynh

Parental Control có chức năng giúp phụ huynh quản lý chuyện lướt web của trẻ nhằm bảo vệ chúng khỏi các nguy cơ từ mặt trái của Internet.

Microsoft đã tích hợp tiện ích Parental Control vào trong Windows Vista để quản lý con em theo ba dạng (phụ huynh, giáo viên, người trông trẻ) nhằm giới hạn quyền truy cập của trẻ đến các nội dung xấu như hay hạn chế truy cập đến các tính năng mà trẻ có thể vô tình làm hư hỏng hệ thống.

Parental Control có thể được truy xuất từ Control Panel với quyền quản trị viên (administrator), cung cấp 5 tùy chọn mạnh mẽ để tạo một môi trường an toàn cho trẻ:

Activity Reporting

Khi tùy chọn này được kích hoạt, phụ huynh sẽ nhận được những thông báo cung cấp tất cả những hoạt động của trẻ khi sử dụng máy tính. Biểu tượng sẽ xuất hiện trên khay hệ thống để thông báo rằng trẻ đang được giám sát bởi cha mẹ.

Windows Vista Web Filter
Một bộ lọc "thông minh" được tích hợp sẵn vào Windows Vista nhằm lọc những website xác định. Bộ lọc hoạt động như các ứng dụng phần mềm lọc web độc lập khác và có khả năng "được huấn luyện" để chọn lựa khuôn mẫu.

Phụ huynh có thể chỉ định trẻ truy cập tất cả website và nội dung hay chỉ truy cập vào website với những nội dung được xác lập theo quy tắc mà mình đã thiết lập trước đó. Trẻ sẽ được truy cập vào trong các website trong danh sách an toàn hay các website nằm ngoài danh sách "đen". Bộ lọc cũng có thể tự động khóa những website có nội dung, hình ảnh khiêu dâm, bạo lực, ma túy, vũ khí, rượu bia, thuốc lá hay các trang cờ bạc ăn tiền tùy thuộc vào sự lựa chọn của phụ huynh.


Tuy vậy, Internet ngày càng phát triển và số lượng website "đen" cũng mọc lên như nấm. Do đó, bạn cũng sẽ mất nhiều thời gian để bổ sung các website này vào danh sách ngăn chặn cho bộ lọc.

Time Limits

Đây là phần hữu ích nhất mà Parental Control mang lại. Nó giúp quản trị viên có thể tạo một thời khóa biểu cho phép sử dụng máy tính.

Games - Applications

Chức năng này sẽ giúp ngăn chặn cơn sốt game. Phụ huynh có thể chỉ định các game được đánh giá cao, nội dung hay chủ đề phù hợp. Tương tự vậy với các phần mềm ứng dụng mà trẻ được quyền thực thi.

Với Parental Control, các bậc phụ huynh sẽ đỡ được phần nào nỗi lo lắng về các tác hại và nguy cơ mà Internet hay PC có thể ảnh hưởng đến trẻ. Hãy tạo ngay 1 tài khoản và bắt đầu thiết lập với Parental Control nếu bạn đang sử dụng Windows Vista và có trẻ đang tập tành sử dụng Internet.

Xóa mật mã Windows User

Một đôi khi, bạn lỡ quên mất mật mã vào User của mình, hãy cầu cứu Active Password Changes 3.0. Đây là một công cụ nằm trong bộ công cụ Hiren 8.2. Vì thế trước hết, bạn hãy chuẩn bị một đĩa CD khởi động Hiren 8.2.

Đầu tiên, bạn hãy khởi động máy tính từ CD-ROM, một danh sách các công cụ hiện ra, bạn hãy vào phần Password & Registry Tools, chọn công cụ Active Password Change.

Sau khi chương trình khởi động, bạn sẽ thấy một danh sách các lệnh được khởi đầu bằng các con số. Hãy chọn dòng số <2> tương ứng với “Search for MS SAM Database on all hardisk and logical Driver”.

Chương trình sẽ bắt đầu quá trình dò trên tất cả các phân vùng đĩa của máy tính để tìm tập tin SAM (là tập tin chứa dữ liệu về User và Password của Windows). Máy tính sẽ yêu cầu bạn chọn tập tin SAM nằm ở phân vùng nào. Nếu bạn chỉ có một phân vùng chứa SAM thì nhấn Enter để tiếp tục.

Tiếp theo bạn sẽ nhận được một danh sách các Username và một loạt các lựa chọn đối với từng User cụ thể. Bạn chọn User mà mình muốn xóa mật mã và đánh dấu vào dòng “Clear this user password”. Nhấn Enter để kết thúc.

Vậy là mật mã User của bạn đã bị xóa trắng. Bạn có thể khởi động lại máy tính, đăng nhập User với mật mã “trắng” và điều chỉnh lại máy tính như ý bạn muốn.



Tìm hiểu Windows Vista: Bỏ những tính năng không cần thiết để Vista chạy nhanh hơn

Vì Vista thường cài thêm mặc định khá nhiều tiện ích kèm theo để giúp người dùng thoải mái hơn khi sử dụng. tuy nhiên, không phải người dùng nào cũng có nhu cầu sử dụng hết các tính năng đó. Đây là nguyên nhân gây ra sự chậm trễ ở CPU và làm hao dung lượng ổ cứng.

Có thể loại bỏ các thành phần không cần thiết trong Vista để sử dụng tốt Vista bằng thủ thuật nhỏ sau:

Hầu hết các tiện ích này đều nằm trong tiện ích Windows Features. Bạn có thể vào tiện ích này thông qua Start > Control Panel. Sau đó, chọn Uninstall a program. Trên khung menu, chọn Turn Windows features on or off. Đây là toàn bộ các tiện ích không cần thiết có thể gỡ bỏ mà vẫn làm Vista chạy tốt.

Sau khi chọn hoàn tất, nhấn OK để loại bỏ chương trình ra khỏi Vista. Bạn cần khởi động lại máy để thay đổi có hiệu lực.

Tìm lại Password Win XP NTFS

Chuẩn bị
- Đầu tiên các bạn hãy vào trang Offline NT Password & Registry Editor, Bootdisk / CD để lấy chương trình bootdisk.zip
- Chuẩn bị một đĩa mềm sạch
- Các bạn về và chạy file install.bat trong đấy, chương trình sẽ thực hiện việc ghi thông tin ra đĩa mềm.

Thao tác

- Vào CMOS thiết lập cho máy khởi động từ đĩa mềm
- Khởi động máy bằng đĩa mềm vừa tạo

Sau một lúc đọc các thông số + và các lời giới thiệu về chương trình:
Nó sẽ đưa ra các thông tin để Bạn chọn lựa:

[1] Select disk where the Windows installation is (Bạn sẽ chọn đĩa bạn cài Win ở đây)
[2] Select PATH and registry files (Đường dẫn đến các file thông tin)
Bạn không cần phải quá lo lắng, ở những bước này hầu như bạn chỉ cần phải nhấn Enter
[3] Password or registry edit:
Ở đây bạn sẽ được hỏi là bạn muốn chọn thao tác reset lại password hay là muốn sữa chữa registry. Thông thường là bạn chỉ muốn dùng để reset lại password cho nên đơn giản hãy nhấn Enter.

Sau đấy chương trình sẽ hiện lên hàng loạt các username để bạn chọn lựa

RID: 01f4, Username:
RID: 01f5, Username: , *disabled or locked*
RID: 03e8, Username: , *disabled or locked*
RID: 03eb, Username: , *disabled or locked*
RID: 03ea, Username: , *disabled or locked*

Select: ! - quit, . - list users, 0x - User with RID (hex)
or simply enter the username to change: [Administrator]

Hãy chọn account mà bạn muốn đặt lại password. Lúc này chương trình sẽ yêu cầu bạn gõ lại password cho account đấy. bạn nên gõ dấu * tương đương với việc bạn chọn password là rỗng, bạn nên chọn password rỗng sẽ tốt hơn là bạn gõ một password mới vào ( Lý do vì sao thì chốc nữa tôi sẽ trình bày).

[4] Kết thúc: Tất cả những gì bạn làm đã xong, hãy rút đĩa mềm ra và khởi động lại máy, nhập vào account bạn vừa reset lại pass để đăng nhập.

-----------------
Rút ra một số kết luận về các điều kiện cần phải có của một chương trình dùng để reset lại password trong Win2000/XP/2003:

Như chúng ta đã biết, các thông tin về username và password đều được ghi lại trong file SAM. Vấn đề là định ra được file SAM nằm ở đâu trên hệ thống và đọc và sửa chữa lại được các thông số trong file SAM đấy. NTFS cũng như là cơ chế FAT nếu đứng về mặt lưu trữ nhưng NTFS bảo mật vì cơ chế lưu trữ thông tin của nó không được tiết lộ chi tiết. Cho nên vấn đề khi tìm lại password của một hệ thống không quan trong đấy là FAT hay NTFS mà điều quan trong là tìm ra được file SAM được lưu trữ ở đâu

Khi có được file SAM thì phải hiểu được cấu trúc của file SAM: nghĩ là trường tên user ở đâu, trường password ở đâu. Tất nhiên là chúng đều đã được mã hóa.
Dù chúng ta có được trường thông tin password nhưng vấn đề ở đấy là chúng ta không thể decode các thông tin đấy để nó trở thành lại password cũ được, bởi vì như vậy thì đâu có là bảo mật nữa, thằng MS chết từ lâu rồi...., nhưng vấn đề là chúng ta có thể ghi đè lên các thông tin đấy. Vậy để reset lại password thì ta có thể ghi đè password mới lên trên đấy (tất nhiên phải sau khi mã hóa password mới). Chúng ta có thể thấy rằng, trên khắp thế giới, thì password rỗng được mã hóa giống nhau trên mọi hệ Win các thứ tiếng. (Korea, Japan...) cho nên nếu ghi đè lên bằng một password rỗng thì luôn an toàn hơn, phù hợp cho mọi loại Win hơn. Nếu bạn ghi đè một password khác rỗng, nhưng Win đấy có thể là Win tiếng nhật, tiếng Hàn thì bạn có thể gặp vấn đề.

Chương trình boot disk trên kia đã làm được những yêu cầu đấy:
- Xác định được file SAM trên ổ đĩa.
- Xác định được vị trí của các trường user và pass được lưu trữ trong file SAM
- Có cơ chế mã hóa và ghi đè lại password.

Nhược điểm của phương pháp reset lại password kể trên: (Hay kể cả phương pháp xóa file SAM cổ lổ sĩ)
- Dữ liệu của account đấy mà đã encrypt trước đấy thì sẽ không khôi phục lại được, vì một lý do là khi encrypt dữ liệu, hệ thống sẽ sử dụng cả password của account đấy để encrypt. ---> dẫn đến không thể khôi phục lại những dữ liệu đấy khi mình đã set lại password mới.
Phương pháp này đã được thử nghiệm thành công trên các Win2000/XP/2003.
Tuy nhiên, hi vọng đấy chỉ là bài viết để mọi người cứu mình và cứu người khác trong trường hợp "hiểm nghèo" chứ không nên lạm dụng để đi phá hoại người khác.

Tổng quan về bảo mật cho hệ thống Windows _phần 2

Những phương thức chung bảo mật Computer Tiến hành cài đặt an toàn ngay từ ban đầu cho Hệ điều hành và các Ứng dụng theo hướng dẫn:

Thực thi các cấu hình bảo mật mặc định cho HDH và ứng dụng

Chỉ cài đặt những ứng dụng và dịch vụ cần thiết trên các Server (ví dụ: không cài lung tung các ứng dụng và triển khai những dịch vụ không cần thiết trên Mail, Web server của tổ chức..)

Xác lập bảo vệ cho tất cả các tài khoản mặc định của hệ thống (ví dụ: tài khoản mặc định Administrator nên được rename vì tên này ai cũng biết, và set password phức hợp, sẽ có tác dụng lớn để đối phó với attacker trong những cuộc tấn công dạng Brute force password)

Những file cài đặt cho HDH và application phải an toàn, phải được xác nhận (digitally sign) từ nhà cung cấp, có thể dùng nhiều utility để kiểm tra vấn đề này , ví dụ Sign verification…

Tiến hành cài đặt phải là những Người có đủ độ tin cậy trong tổ chức.

Nên cô lập Mạng trong quá trình cài đặt . Tạo một Network riêng dành cho việc cài đặt nếu phải cài đặt HDH, ứng dụng qua Mạng (ví dụ dùng dịch vụ RIS của Microsoft..), điều này là thiết yếu và tăng sự an toàn, có thể chống được sự lây nhiễm Virus từ bên ngoài hoặc các Built-in account như Administrator được tạo ra qua Mạng từ các unattended installation scripts không bị thâu tóm.. các CD cài đặt HDH, ứng dụng nên tích hợp đầy đủ các Service packs, security updates (vá lỗi ngay trong quá trình cài đặt)

Làm thế nào để cấu hình các xác lập chuẩn bảo mật cho một tổ chức (Security baseline)

Trước khi triển khai Computer cho tổ chức, cần xác định các security baseline. Các security admin có thể triển khai những security baseline này trong suốt quá trình cài đặt hoặc sau đó. Trên Microsoft Windows 2000 và Microsoft Windows XP, các admin có thể taọ và triển khai các security templates để đạt được những yêu cầu bảo mật cần thiết.Tuân thủ những hướng dẫn sau để tạo security baseline cho các Computer :

Tạo một chính sách security baseline cho các Computer theo đúng những quy định của tổ chức về an toàn thông tin phục vụ cho các quy trình nghiệp vụ. Chính sách này phải đảm bảo an toàn cho Computer, HDH và các ứng dụng nghiệp vụ…

Ví dụ: chính sách chỉ định rằng tất cả HDH trong tổ chức phải chống được kiểu tấn công SYN-ACK (synchronize acknowledge) denial of service (DoS) tấn công từ chối dịch vụ. Một chính sách tốt cũng hình dung được vai trò của Computer cần bảo vệ..

Tạo sẵn các security templates mẫu, cho phép chỉnh sửa. Ví dụ để bảo vệ HDH chống lại SYN-ACK attacks, có thể đơn giản thêm vào Registry những giá trị mong muốn nhằm thay đổi cách thức vận hành của TCP/IP stack trong giao tiếp Mạng với các Computer khác, như vậy có thể chống được những cuộc tấn công kiểu này.

Vận hành thử và Kiểm tra các security templates này. Mỗi security template được triển khai sẽ không có các yếu tố gây cản trở HDH, các dich vụ khác, hoặc xung đột với các ứng dụng

Triển khai các security templates cho Computer thông qua những công cụ như command Secedit Group Policy, hoặc tự động hóa triển khai cho hàng loạt Computer thông qua các Group Policy của Active Directory Domain (GPO)Security cho các Computer có vai trò đặc biệt như thế nào.

Admin sẽ cài đặt những Ứng dụng và những dịch vụ phụ thuộc vào vai trò của những Computer đó.

Như vậy những Computer đặc biệt này cần có những Security baseline tương đối khác nhau để phù hợp với dịch vụ đang vận hành.

Ví dụ: Web server chạy dịch vụ Internet Information Services (IIS) cho phép hàng ngàn truy cập mỗi ngày từ Internet với những mối nguy hiểm luôn rình rập. Ngược lại thì một File server sẽ không chạy dịch vụ IIS và chỉ có thể truy cập bởi những user trong mạng nội bộ . Thiết kế bảo mật cho các Computer có vai trò đặc biệt đòi hỏi có kinh nghiệm và am hiểu chi tiết về những ứng dụng và dịch vụ mà chúng đang vận hành. Ví dụ một Windows 2000 administrator có thể không có những kiến thức để hiểu được cách hoạt động của một database server như Microsoft SQL Server 2000, cho dù nó được cài đặ trên một Windows 2000.

Phải đảm bảo những cá nhân chịu trách nhiệm thiết kế bảo mật cho những Server này có những hiểu biết cần thiết và kinh nghiệm đáp ứng được các yêu cầu bảo mật cua tổ chức. Và cũng đảm bảo rằng tổ chức chúng ta có những chính sách sẵn sàng, quản lý bảo mật cho các server ày khi chúng thay đổi vai trò hoạt động. ví dụ File Server được triển khai lại thành một Web server.

Referral Code: Sign up for PayPal and start accepting credit card payments instantly.